Bước tới nội dung

Thiên hà lùn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
UGC 9128 là một thiên hà lùn vô định hình, có chứa khoảng 100 triệu ngôi sao.

Thiên hà lùn là một thiên hà nhỏ bao gồm vài tỷ ngôi sao, một số lượng nhỏ so với 200-400 tỉ sao của dải Ngân Hà. Đám mây Magellan Lớn, có trên 30 tỷ ngôi sao, đôi khi được phân loại như là một thiên hà lùn trong khi những người khác xem nó là một thiên hà chính thức quay quanh Ngân Hà.

Sự hình thành các thiên hà lùn

[sửa | sửa mã nguồn]

Các giả thiết hiện nay cho rằng hầu hết các thiên hà, bao gồm cả các thiên hà lùn, hình thành kết hợp với vật chất tối hoặc trong bụi khí chứa kim loại. Tuy nhiên, NASA Galaxy Evolution Explorer xác định các thiên hà lùn mới hình thành trong khí thiếu kim loại. Các thiên hà này nằm trong vành đai Leo, một đám mây hydro và heli quanh hai thiên hà lớn trong chòm sao Leo.[1]

Thiên hà lùn địa phương

[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều thiên hà lùn trong Nhóm Địa phương: các thiên hà nhỏ này thường quay quanh thiên hà lớn hơn, như Ngân hà, thiên hà Andromedathiên hà Tam Giác. Một bài báo năm 2007 [2] đã cho rằng nhiều thiên hà lùn đã được tạo ra bởi các lực triều trong quá trình tiến hóa ban đầu của dải Ngân hà và thiên hà Andromeda. Thiên hà lực triều lùn được tạo ra khi các thiên hà va chạm và khối lượng hấp dẫn của chúng tương tác. Dòng vật chất thiên hà bị kéo ra khỏi thiên hà mẹ và các quầng vật chất tối bao quanh chúng.[3]

Dải Ngân hà có 14 thiên hà lùn quay quanh nó được biết đến, và quan sát gần đây [4] cũng khiến các nhà thiên văn tin rằng cụm sao cầu lớn nhất trong dải Ngân Hà, Omega Centauri, trong thực tế, là lõi của một thiên hà lùn với lỗ đen ở trung tâm, bị Dải Ngân Hà hấp thụ tại một thời điểm nào đó.

Các hình thái phổ biến

[sửa | sửa mã nguồn]
UGC 11411 là một thiên hà lùn đặc xanh vô định hình.[5]

Thiên hà lùn có nhiều hình thái khác nhau:

Thiên hà Hobbit

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khái niệm gần đây, thiên hà Hobbit được dùng để chỉ các thiên hà nhỏ và tối hơn thiên hà lùn.

Thiên hà lùn siêu đặc

[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hà lùn siêu đặc (tiếng Anh: UCD) là các thiên hà nhỏ với số sao rất lớn. Chúng được cho là có đường kính 200 năm ánh sáng, với một trăm triệu ngôi sao.[7] Giả thuyết cho rằng đó là lõi của các thiên hà eplip hạt nhân lùn, đã bị tước đi bụi khí và các ngôi sao nằm ngoài rìa bằng cách tương tác triều, đi xuyên qua tâm của cụm sao lớn.[8] UCD được tìm thấy trong cụm Xử Nữ, cụm Thiên Lô, Abel 1689, cụm Coma, và các cụm khác.[9]

Danh sách một phần các thiên hà lùn

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ UPI, "New Recipe For Dwarf Galaxies: Start With Leftover Gas", Science Daily, 19 Feb 2009 [1]
  2. ^ Metz, M.; Kroupa (2007). “Dwarf-spheroidal satellites: are they of tidal origin?”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society. 376: 387–392. arXiv:astro-ph/0701289. Bibcode:2007MNRAS.376..387M. doi:10.1111/j.1365-2966.2007.11438.x.
  3. ^ New Recipe for Dwarf Galaxies: Start with Leftover Gas Newswise, Retrieved on ngày 20 tháng 2 năm 2009.
  4. ^ Noyola, E. and Gebhardt, K. and Bergmann, M. (2008). “Gemini and Hubble Space Telescope Evidence for an Intermediate-Mass Black Hole in ω Centauri”. The Astrophysical Journal. 676 (2): 1008–1015. arXiv:0801.2782. Bibcode:2008ApJ...676.1008N. doi:10.1086/529002.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  5. ^ “True blue”. ESA/Hubble. ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
  6. ^ Schombert, J. M.; Pildis, R. A.; Eder, J. A.; Oelmer, A., Jr. (1995). “Dwarf Spirals”. The Astronomical Journal. 110: 2067–2074. Bibcode:1995AJ....110.2067S. doi:10.1086/117669.
  7. ^ Anglo-Australian Observatory Astronomers discover dozens of mini-galaxies Lưu trữ 2008-07-22 tại Wayback Machine 0100 AEST Friday ngày 2 tháng 4 năm 2004
  8. ^ Stelios Kazantzidis; Ben Moore; Lucio Mayer (2003). "Galaxies and Overmerging: What Does it Take to Destroy a Satellite Galaxy?". arΧiv:astro-ph/0307362 [astro-ph]. 
  9. ^ Mieske; Infante; Benitez; Coe; Blakeslee; Zekser; Ford; Broadhurst; Illingworth (2004). “Ultra Compact Dwarf galaxies in Abell 1689: a photometric study with the ACS”. The Astronomical Journal. 128 (4): 1529–1540. arXiv:astro-ph/0406613. Bibcode:2004AJ....128.1529M. doi:10.1086/423701.


Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]